0

Phong trào Focolare – (tác giả Michel Phạm Mỹ)

 Ngày nay, nhiều tổ chức công giáo, khiêm tốn không mang tên ‘‘truyền giáo’’. Nhưng hoạt động tông đồ truyền giáo mạnh, dùng gương sáng và phục vụ, đem lại kết quả to lớn, ảnh hưởng tới mọi tầng lớp. Xin có đôi nét về Phong trào Focolare (Tổ Ấm) do chị Chiara Lubich (Ý, 1920-2008) thành lập, thực hiện một thế giới hiệp nhất, qua tinh thần sống bác ái. Châm ngôn phát xuất từ câu : ‘‘Xin cho chúng con nên một như Con trong Cha và Cha trong Con’’. (Ga 17, 21). Phong trào còn có tên: ‘‘Tổ Ấm Mẹ Maria’’ hay ‘‘Công trình Mẹ Maria’’. Chữ Focolare từ tiếng Ý là ‘‘Tổ ấm gia đình’’.

Tầm mức nhỏ bé của hạt cải

 Hiện nay Phong trào có khoảng 200.000 thành viên trong 182 nước và hơn 5 triệu người liên kết với Phong trào. Thành viên thuộc giáo hội và tôn giáo khác nhau, như Công giáo, Tin Lành, Chính Thống, Phật giáo, Hồi giáo, Ấn giáo…Mở rộng không phân biệt  tuổi tác, gia cảnh, tín ngưỡng. Như lời chị Chiara Lubich mong : Từ 2000 năm nay, Đức Giêsu kêu gọi đặt Thiên Chúa vào chỗ quan trọng trong cuộc sống. Và Người tha thiết ước muốn cho giới răn mới được thực hiện giữa họ : ‘‘Các con hãy yêu thương nhau, như Thầy yêu các con’’ (Ga 15, 12). Điều tiêu biểu cho Kitô Giáo không phải là công việc vĩ đại, không phải là kiến thức, cũng không phải các phép lạ. Nhưng khi chúng ta yêu thương nhau thì thế gian sẽ tin.

 Năm 1943, Chị Chiara 23 tuổi, đã dâng hiến đời cho Chúa. Giữa những đổ nát của thế chiến thứ 2. Một nhóm thiếu nữ qui tụ bên chị, dưới hầm trú bom đạn. Những câu đánh động : Các con hãy yêu nhau như Thầy yêu các con (Ga 15, 12). Ở đâu có hai hay ba người nhân danh Ta họp lại, thì Ta ở giữa họ (Mt 18, 20). Kinh nghiệm là tình yêu lẫn nhau liên kết thành tình yêu hiệp nhất, cần gặp gỡ và chia sẻ giữa nhau, làm con người cảm nghiệm được Chúa Kitô, sống liên kết chị em.

 Thời gian đầu, Chiara có bạn gái rất thân, chiến tranh, đảo lộn. Chiara đang mê triết học, bỏ học, còn cô gái kia có hôn phu đi lính, không về. Trong vùng, có nhiều cô khác, trẻ nhất 15 tuổi, đều thấy mong ước tan thành mây khói. Họ thường gặp nhau và cùng nhận định ‘‘Mọi sự đều phù hoa giả trá và tất cả đều qua đi’’. Cuối cùng, được soi sáng, các thiếu nữ này đã tìm ra chân lý : Thiên Chúa hằng có đời đời. Họ nghĩ, dù ở dưới hầm trú, họ cũng có thể mất mạng bất cứ lúc nào. Không có đâu an toàn. Phải tìm tới Chúa, chỗ nào mà chả được.

 Mỗi khi có báo động nguy biến, họ kéo nhau đi tìm nơi trú ẩn. Mỗi ngày nhóm này chạy vào hầm trú ẩn tới 12 lần.

 Mỗi lần họ mang theo cuốn Phúc Âm. Có lần họ đọc thấy câu ‘‘Không phải kẻ nào thưa với Ta, lạy Chúa, lạy Chúa, mà được vào Nước Trời, nhưng là ai thực hiện ý của Cha Ta trên trời ’’ (Mt 7, 21).

 Năm 1949, nhóm nòng cốt, 15 người, cùng với Chị Lubich lên núi Dolomite tĩnh tâm một thời gian. Họ tránh tiếp xúc với dân chúng, và dựng một mái nhà nghèo hèn, nhỏ ở miền sơn cước. Trong ngày, dành giờ suy ngẫm trước Thánh Thể.  Ân sủng cho một ngày bắt đầu từ đây. Mỗi ngày trước khi dự và rước lễ, chị em tự hỏi : « Nếu ngươi đang dâng lễ vật trên bàn thờ mà chợt nhớ rằng anh em có điều bất hòa với ngươi, thì hãy để của lễ đây, mà đi làm hòa với anh em trước, rồi hãy đến dâng lễ vật ».

 Trước tiên, các Chị đến một vài miền núi quanh vùng, và thấy người ở thung lũng ngày càng đông. Có đủ những bà mẹ trẻ, còn cha mẹ, đông thanh niên và trẻ em. Những năm sau, các chị thuê những biệt thự trong thành phố để tiếp đón những người đến dự đại hội. Cuộc họp thường niên năm 1951, như đại hội. Luật căn bản và duy nhất để thu nhận vào sống cộng đoàn là bác ái. Ở đây, tất cả phục vụ lẫn nhau, chịu đựng dù thuận lợi hay không. Năm 1952, 1953, và 1954 có nhiều linh mục đến tham dự. Năm 1955, đại hội đầu tiên đặt tên là « Mariapolis ». Năm sau, có mặt đủ đại diện 5 châu. Đông người, khởi sắc và tinh thần dâng cao. Để dễ liên lạc, phong trào đã quyết định xuất bản tờ báo định kỳ mang tên « Citta nuova » (Thành Phố Mới, Nouvelle Cité, New City, Neue Stadt), và 25 nhà xuất bản cho nhiều ngôn ngữ.

 Năm 1957, « Mariapolis » được nhiều giám mục đến dự, khuyến khích, và sự có măt các Giám Mục  như có bầu khí mới sống động trong Giáo Hội. Năm 1958, cuộc triển lãm quốc tế của phong trào, giới thiệu những « công trình của Thiên Chúa ». Từ năm này, Phong trào lan ra khắp nước Ý, và mở rộng qua Đức, Pháp, Bỉ, Hòa Lan, Tây Ban Nha, Anh…

 Đến năm 1959, « Mariapolis » có 27 đại diện quốc gia vở dự, giống như hoa nở rộ, và trở thành kiểu mẫu của « thành phố Mẹ Maria », mà phong trào muốn góp phần xây dựng khắp nơi trên thế giới. Từ đây, kết quả rõ rệt là sau đại hội, có nhiều người trở lại đạo. Họ trở lại trong tiếng khóc, vì cuộc đời đã đổi mới hoàn toàn. Đại hội đã thức tỉnh ơn gọi trong tâm hồn, gieo rắc tinh thần muôn phương. Mười năm đầu, đại hội ở Dolomites. Sau đó, đại hội ngắn hạn khác tổ chức tại Chili, Đại Hàn, Úc, Paraguay, Phi Luật Tân, Hoa Kỳ …

« Lời Ban Sự Sống »

 Phúc Âm đã cống hiến những « Lời Ban Sự Sống », Lời có sức mạnh biến thành sự sống. Chị Chiara quả quyết trường hợp Phúc Âm có thể bị tiêu hủy, nhưng người khác có thể nhìn vào người sống Phúc Âm mà viết lại Phúc Âm. Phúc Âm đã được các chị sáng lập ôm ấp, như kho tàng quí giá, sống và đem ra áp dụng mọi trường hợp. Đó là Linh đạo của Phong trào.

 Căn bản là những thành viên trẻ sống Phúc Âm, theo cách thức như sau : Mỗi tháng, mỗi thành viên và bạn hữu chọn và sống theo một câu trong Thánh Kinh. Thường là câu trong lễ Chúa Nhật. Đến khi hội học chung, họ đưa ra chia sẻ kinh nghiệm đã sống. Những lời dẫn giải và chia sẻ của Chị Lubich đã đóng thành tập mang tên « Lời Sống », phổ biến trên báo chí, radio và dịch ra 99 thứ tiếng, ấn hành hàng tháng, trên 3 triệu bản.

 Nội trong vài tháng đầu, tại Trento, có đến 500 người sống Phúc Âm. Phúc Âm tự bản chất nối kết những thành viên với nhau. Toàn bộ Phúc Âm trở thành đề tài suy ngẫm, thành qui luật sống của nhóm khởi xướng. Điều liên kết họ với nhau là đức tin và cảm nghiệm Thiên Chúa là tình yêu. Họ đọc Kinh Thánh và cố gắng hướng cuộc sống theo Lời Kinh Thánh, mở lòng trí.

 Sau Phúc Âm, hạnh các thánh cũng là phương tiện giúp thánh hóa những người đi trước của Phong trào. Các thánh đã thực hiện kinh nghiệm tình yêu Chúa Kitô. Là kitô hữu chân chính, các thánh đã cảm nghiệm được tình yêu này khi còn sống. Mỗi vị thánh có vẻ và cá tính riêng, nhưng tất cả tìm ra tình yêu Chúa trong dấn thân phục vụ anh em. Thánh Clara d’Assie, sau khi cầu nguyện lâu giờ trước Thánh Giá Chúa. Mặt ngài rực sáng như nhìn thấy gương mặt đau khổ của Chúa trên Thánh Giá. Thánh nữ đã nói với bạn bè về thiên đàng. Thánh Bonaventura, trong cuốn ”Tình Yêu Chúa Thôi Thúc” (Stimulus of Divine Love) đã dạy rằng: Đến với Trái Tim Chúa Giêsu, lò lửa yêu mến, trước hết phải đi qua các thánh tích của Ngài. Thánh Catherine de Sienne viết : Phải qua đau khổ mới có thể bừng cháy với tình yêu Chúa. Các bạn hãy mặc lấy Máu Thánh, hãy tắm gội Máu Thánh, hãy ngụp lặn trong Máu Thánh, hãy đắm chìm trong Máu Thánh, và hãy say mê trong Máu Thánh.   

Chúa ở giữa Chúng ta

 Nhóm khởi xuởng đưa mắt nhìn xa: Khắp nơi, từ những miền truyền giáo đến những vùng Tin Mừng mặc khải cho con người Đấng Tạo Hóa.  Chúa Giêsu nói: « ở đâu có hai hay ba người họp lại vì Danh Ta thì Ta sẽ ở giữa họ (Mt 28, 20). Chúa không chỉ định loại nguời nào, từ ”hai, ba” có nghĩa vô định, và bất cứ ai. Họ là tội nhân thống hối, góa phụ, trẻ em, trí thức, hay trưởng thành … hiệp nhất với nhau nhân danh Ngài. Sự hiện diện của Chúa đã lướt thắng mọi đau khổ của con người. Khi hai hay ba người quốc tịch khác nhau, hiệp nhất với nhau, thì thành kiến quốc tịch sẽ tiêu tan. Khi hai hay ba người chủng tộc khác nhau, hiệp nhất với nhau, thì không còn kỳ thị chủng tộc nữa. Khi hai hay ba người cùng chung văn hóa, xã hội hay tuổi tác hiệp lại với nhau, mà từ ngàn đời đã bất đồng ý kiện với nhau; thì dễ cởi mở, hiểu biết nhau hơn.

 Kết quả cho đến năm 1960, Phong trào đi một bước xa và xác nhận:  Chương trình Phong trào thuộc Thiên Chúa, chứ không thuộc loài người.  Phong trào nghĩ đến việc liên kết phong trào đại kết. Dần dần, Phong trào tiếp xúc với nhóm Tin Lành Luther, với Anh Giáo, và với cả Tin Lành bên Bắc Mỹ. Hai bên tỏ ra quan tâm lẫn nhau. Tổ chức thuyết trình làm quen. Các buổi gặp gỡ tại Assie, Florence, Trente, Roma, Naples, Rocca di Papa, và những nơi khác trong tinh thần bác ái. Những lần hai bên thăm hỏi qua lại, chung kết luận: Tất cả chúng tôi cảm thấy như sống cùng tinh thần, muốn tìm cách sống Phúc Âm.   

 Khởi đầu, vào dịp hè, từng nhóm nhỏ họp mặt thường xuyên, ngắn hạn, tại vùng núi Dolomiti, nội qui sinh hoạt như một « xã hội mới ». Dần dần chuyển qua thành lập trung tâm.

 Linh đạo khởi sự chỉ phổ biến trong Công Giáo. Từ năm 1958, cả tín hữu Tin Lành cũng tham gia phong trào.

 Trung tâm đầu tiên, tại Loppiano, gần Florense, tổ chức năm 1964, qui tụ 700 người, phần lớn là người trẻ, từ các nước tham dự. Họ theo học « trường Phúc Âm », trong hai năm. Sau đó lan rộng, thành lập các trung tâm ở Đức, Thụy Sỹ, Phi Luật Tân, New York, Phi châu…

 Về tổ chức, chia nhóm riêng nam, nữ, người đã có gia đình, linh mục dòng, nữ tu, các người làm chính trị … sống chung thành cộng đồng. Hướng dẫn do nhóm linh mục như hạt nhân. Tổ chức dấn thân làm việc trong nhiều lãnh vực, canh tân theo tinh thần Phúc Âm : gia đình, xứ đạo, cộng đoàn.  

Chúa Giêsu bị bỏ rơi

 « Chúa Giêsu bị đóng đinh và bị bỏ rơi » là chia khóa dẫn tới hiệp nhất với Thiên Chúa. Đây cũng là danh hiệu của Phong trào, khi nói đến con người đau khổ của Chúa Kitô, là mẫu mực của thành viên. Lý tưởng của Phong trào đeo đuổi. Chúa Kitô là phương thế giúp tẩy sạch sơ suất giữa anh em, tiến tới hỗ tương và vững bền. « ở đâu có tình yêu và bác ái, ở đó có Thiên Chúa hiện diện ».

 Người nghèo là đối tượng của Phong trào. Bác ái đi trước mọi sự. Chị Charia Lubich kể lại:  Với đức tin, có người trong chúng tôi đã dám nguyện trước Thánh Thể rằng :
  Lạy Chúa, xin cho con đôi giầy số 10 … để cho « Chúa », nghĩa là cho Chúa qua người nghèo.

 Hay lời khấn xin khác, tương tự :
 Lạy Chúa, xin cho con một cái áo đàn ông… để con cho Chúa.

 Thế rồi, không thiếu gì những lần, vừa ra khỏi nhà thờ, một người nào đó đã đem đến những gì vừa xin. Những trường hợp này, xảy ra cho bất cứ ai theo Chúa với Lời Ngài « Hãy xin thì sẽ được ». 

 Chính các Thánh cũng gặp những thử thách, như : Lần kia, Thánh Catherine de Sienne đã cho một người nghèo chiếc áo, và cho người khác cây Thánh Giá. Đêm sau, Chúa hiện ra và cám ơn về những tặng vật mà thánh nhân đã cho Ngài hôm trước. Thánh Phanxico đã cho người nghèo chiếc áo khoác của ngài trên 30 dịp khác nhau.  

 Trong và sau thời chiến tranh, Phong trào đã tích cực cứu trợ nạn nhân chiến cuộc, phân phát biết bao nhiêu thùng thực phẩm, thuốc men, quần áo.  Họ có mặt khắp nơi với khả năng.

Kết luận

 Sau khi nghiên cứu vở Phong trào Focolare, cho thấy có những điểm nổi bật : 

 - Linh đạo của Phong trào là sống và thực hiện Phúc Âm. Bất cứ một sinh hoạt nào, Phong trào cũng dựa và áp dụng theo tinh thần truyền giáo Phúc Âm. Tức là, tự mình sống Phúc Âm trước, rồi mới đem Tin Mừng đến cho người khác. Hình thức thật vững chắc và căn bản tu đức. 

 - Sinh hoạt bác ái là mối dây liên kết trong và ngoài Phong trào. Luật yêu thương của Thiên Chúa đã thể hiện hoàn toàn nơi từng thành viên của Phong trào. Chính nhờ những khuôn mặt bác ái có mặt khắp nơi, mà Phong trào đã ăn rễ và bám sâu vào mọi tầng lớp trong xã hội. Bác ái không vỏn vẹn lo vật chất, mà còn lo giáo huấn, nâng đỡ tinh thần và cầu nguyện nữa.

 - Nhờ phong trào, sự hiệp nhất trong Giáo Hội đang ló rạng. Một thành quả quá lớn lao sắp hoàn thành, trong việc truyền giáo. Giáo quyền đã phê chuẩn luật của Phong trào cho phép các Kitô hữu ngoài công Giáo tham dự vào Phong trào. 

 Và mối giao hảo ngày càng tốt đẹp gia tăng giữa tín đồ các tôn giáo, nên ngày nay Phong trào Focolare đã là thành viên thường trực của Hội Đồng Tôn Giáo Thế Giới Cho Hòa Bình (WCRP).

Đôi nét các vị sáng lập

1. Chị Chiara Lubich

 Chị Chiara Lubich sinh 22-1-1920, tại Trento, bắc Ý, trong gia đình lao động, 4 người con. Từng là cô giáo tiểu học. Năm 1943, chị quyết định dâng hiến cuộc đời hoàn toàn cho Thiên Chúa. Sau đó nhiều thiếu nữ theo Chị và thành lập ra Phong trào. Chị là chủ tịch phong trào không ai thay thế.

 Năm 1977, Chị Chiara Lubich được trao giải thưởng Templeton vì những bước tiến tôn giáo. Ban giám khảo nhận định : Chị Chiara Lubich đã đưa tình thương ra ánh sáng. Do đó, Chị đã góp phần quan trọng cho bước tiến đạo đức của những người thuộc tôn giáo khác nhau. Phần đóng góp của Chị, xây dựng hiệp nhất đã có ảnh hưởng mạnh mẽ mối tương quan hiện nay giữa các giáo hội và các tôn giáo. 

 Năm1988, Chị được giải thưởng hòa bình Augsburg vì những thành quả xúc tiến những điểm chung giữa các Giáo Hội. Tháng Giêng 1997, Chị được mời nói chuyện tại viện đại học Phật giáo, ở Thái Lan. Qua tháng 5, Chị là người phụ nữ da trắng đầu tiên viếng thăm giáo đường Hồi giáo, tại Harlem, Hoa Kỳ. Trong năm 1996, và 1997 Chị nhận các bằng tiến sỹ danh dự vở Triết, Giáo dục, Thần học, và Xã hội học ở nhiều nơi.

 Ngày 14.3.2008, chị qua đời, 88 tuổi. Ngày nay phong trào Tổ ấm có thành viên dấn thân tại 182 quốc gia, với 5 triệu hội viên, có những người không công giáo. Ngày 7.12. 2013, kỷ niệm 70 năm chị khấn hứa thánh hiến cho Thiên Chúa.  Coi như là ngày khai sinh phong trào. Chị Maria Vioce, chủ tịch phong trào cho biết sau đại hội tại Castel Gandolfo, đã xin ĐC Raffaelo Martinelli, GM giáo phận Frascati nam Roma, nơi chị Lubich qua đời, tiến hành thủ tục xin phong thánh cho Chị. (GXVN số 300, 2.2014, tr. 30)

2. Linh mục Pascale Foresi là một trong những người đầu tiên khi phong trào khai sinh. Cha thụ phong linh mục 1954, qua đời năm 85 tuổi.

3. Chân Phuớc Chiara Luce Badano, sinh 29.10.1971, qua đời 7.10.1990, thành viên đầu tiên phong trào được phong Chân Phuớc ngày 25.9.2010, do Đức TGM Angelo Amato, tổng truởng Bộ Phong Thánh chủ trì tại Castel di Leva, gần Roma. (tgpsaigon. net 15.4.2010)

4. Ban chấp hành Focolare, bầu ngày 8.7.2008: Chị Mari Voce và Linh mục Giancarlo Faletti đồng chủ tịch. Chị Mari Voce, sinh 1937, luật sư, đến với Focolare, từ 1959. Linh mục Giancarlo Faletti, sinh 1940, từ 19 tuổi tham gia Focolare.

______________________________

Tài liệu viết bài:

– Pensée et Spiritualité. Chiara Lubich. Rome, 2003

– Hiệp Nhất Trong Tình Yêu (C’était la Guerre). Chiara Lubich. Bản dịch Việt ngữ của lớp Tanta, Đà Lạt. 1974.

– Lm Nguyễn Trung Điểm. Phong Trào Facolare. Nguyệt san Dân Chúa Âu Châu. số 184. 2-1998, tt. 30-32).

Nguồn: http:giaoxuvnparis.org/chi-tiet/phong-trao-focolare-michel-pham-my.html

Xin mời đọc tiếp:

Đặc sủng của phong trào Focolare Tổ Ấm

Sứ Ðiệp ÐTC Gioan Phaolô II gửi phong trào Focolare

Phong trào Focolare kỷ niệm 100 năm ngày sinh của chị Chiara Lubich – người sáng lập

PHONG TRÀO FOCOLARE
0

Leave a Reply